Vai Trò của Tự Do Báo Chí
Tài liệu đọc thêm
Zechariah Chafee, Tự do báo chí tại Hoa kỳ [Free Speech in the United States] (Harvard University Press, 1967)
Fred W. Friendly, Minnesota Rag: tường thuật về vụ kiện sôi nổi quanh phán quyết quan trọng của toà Tối cao đưa ra các ý nghĩa mới cho quyền tự do báo chí. [Minnesota Rag: the Dramatic Story of the Landmark Supreme Court Case that Gave New Meaning to Freedom of the Press] (Random House, 1981)
Leonard Levy, Sự xuất hiện của tự do báo chí [The Emergence of a Free Press] (Oxford University Press, 1985)
Paul L. Murphy, Ý nghĩa của tự do báo chí [The Meaning of Freedom of Speech] (Greenwood Publishing, 1972)
Paul L. Murphy, Thế chiến I và nguồn gốc của các quyền tự do của người dân tại Hoa kỳ [World War I and the Origin of Civil Liberties in the U.S.] (W.W. Norton, 1979)
Richard Polenberg, Sự Xung đột của các Niềm tin: Vụ kiện Abrams, toà Tối cao và Tự do Báo chí [Fighting Faiths: The Abrams Case, the Supreme Court, and Free Speech] (Viking Press, 1987)
S.J. Ungar, Báo chí và Hồ sơ: tường thuật về cuộc đấu tranh pháp lý và chính trị trong vụ Hồ sơ Mật lầu Năm góc [The Papers & The Papers: An Account of the Legal and Political Battle Over the Pentagon Papers] (E.P Dutton, 1972)
Sơ lược về tác giả:
John W. Johnson là khoa trưởng khoa Lịch sử tại trường Đại học University of Northern Iowa từ năm 1988. Ông là tác giả của các tác phẩm Tự điển bách khoa về các vụ kiện có tính cách lịch sử tại Hoa kỳ [Historic U.S. Court Cases: An Encyclopedia] (2nd edition, 2001), Tranh đấu cho quyền của Sinh viên: vụ kiện giữa Tinker và Des Moines trong những năm 1960 [The Struggle for Student Rights: Tinker v. Des Moines and the 1960s] (1997), Bảo đảm chống Đại họa: Xét xử ngành Công nghiệp Năng lượng Hạt nhân [Insuring Against Disaster: The Nuclear Industry on Trial] (1986), và Nền Văn hóa Pháp lý Hoa kỳ, 1908-1940 [American Legal Culture, 1908-1940] (1981). Hiện nay ông đang viết một cuốn sách về quyền riêng tư trong cuộc sống tại Hoa kỳ.
Ghi chú:
[1] Xét xử bằng bồi thẩm đoàn (trial by jury) là phương thức xử án tại các nước theo Anh quốc. Bị cáo được xét xử bằng một bồi thẩm đoàn (ở Mỹ thường là 12 người dân thường) được lựa ra một cách bất kỳ trong danh sách cử tri. Nhiệm vụ của bồi thẩm đoàn là tìm hiểu chứng cớ cấu thành tội phạm do công tố viên (đại diện nhà nước) đưa ra và được quan tòa cho phép cứu xét tại tòa, cũng như các chứng cớ hay lý do phản bác của bị cáo. Sau đó bồi thẩm đoàn sẽ nghị án là bị cáo "có tội" hay "không có tội." Trong các vụ hình sự, bị cáo chỉ bị tội khi toàn thể bồi thẩm đoàn (100%) đồng ý là bị cáo có tội; nếu không đủ 100%, vụ án phải được xử lại. [Chú thich của HVCD]
[2] Đảng Bình dân hình thành vào cuối thế kỷ 19 tại Mỹ, gồm giới bình dân và nông dân, chủ trương chống lại giai cấp thượng lưu, hủy bỏ ngân hàng trung ương, ấn định các ngạch thuế lợi tức, bầu cử trực tiếp nghị sĩ liên bang, ... [chú thích của HVCD]
[3] Jay M. Near được mô tả là một người "chống đạo Gia-tô, chống Do thái, chống da đen và chống công đoàn" (Fred W. Friendly trong cuốn Minnesota Rag: Corruption, Yellow Journalism, and the Case That Saved Freedom of the Press, May 1981 (Random House) ISBN 0-394-50752-5; Reprinted May 2003 (University of Minnesota Press) ISBN 0-8166-4161-7 ) - [Chú thích của HVCD]
[4] Ngăn không cho đăng hay xuất bản một tài liệu trước khi biết nội dung. - [Chú thích của HVCD]
[5] Tòa Phòng Ngôi sao (the Court of Star Chamber) là một toà đặc biệt của triều đình nước Anh vào thế kỷ 15 có nhiệm vụ giám sát các toà dưới. Tuy nhiên dưới triều đại Stuarts (1603-49, 1660-1714) toà đã trở nên có rất nhiều quyền lực để xử các vụ phản loạn. Các phiên xử của tòa đều xử kín, không cho kháng cáo, hình phạt rất nghiêm khắc và được thi hành rất nhanh chóng. - [Chú thích của HVCD]
