Cách Làm Luật Trong Một Xã Hội Dân Chủ
Gordon Morris Bakken
"Thực chất của luật pháp vào bất cứ thời điểm nào cũng hầu như cố gắng hết sức đi sát với những điều mà lúc đó người ta cho là tiện nhất. Nhưng hình thức và cơ chế của luật pháp cũng như cái mức độ mà luật pháp có thể thực hiện được các kết quả mong muốn tùy thuộc rất nhiều vào cái quá khứ của luật pháp.”
-- Oliver Wendell Holmes, Jr.[i] The Common Law (1881)
Dân Mỹ đã hợp nhau lại để làm luật từ thời kỳ thuộc địa và cho tới nay vẫn còn làm luật để duy trì một xã hội có quy củ. Tuy các thể thức cụ thể về việc làm luật đã tiến triển qua nhiều thế kỷ nhưng làm luật theo thể thức dân chủ vẫn còn những đặc điểm đáng chú ý là phải cần có sự thỏa thuận của dân chúng, phải có một hệ thống kiểm soát và cân bằng và phải có một chính sách công linh động để thích ứng với các vấn đề qua thời gian và không gian.
Trong thế kỷ 17 và 18, dân Mỹ gửi đại biểu tham dự các cuộc họp của chính quyền thuộc địa để làm những luật lệ quy định các quan hệ kinh tế và xã hội trong cuộc sống hàng ngày. Những vấn đề như cho con đường phải đi qua đâu, hay thế nào là một điều trở ngại công cộng, đều được tranh luận và quyết định. Đường xá tạo điều kiện cho thương mại phát triển và việc bỏ các nông phẩm và sản phẩm phế thải không phải chỉ là vấn đề thuần tuý thuộc về mỹ quan. Cả hai vấn đề này đều có liên hệ tới sự lành mạnh của một xã hội có quy củ. Trong thế kỷ 19, dân Mỹ họp tại Missouri để đưa ra những luật lệ về các toa xe lửa. Các “luật lệ đi đường” này nhẳm bảo vệ sinh mạng cho các hành khách trong chuyến đi dài hàng ngàn dặm sang bờ Thái bình dương. Khi tới mỏ vàng tại Caifornia, các người đi tìm vàng xuống tầu, nhưng rồi chính họ lại họp nhau lại để thảo ra các luật lệ trong vùng khai mỏ. Những người khai mỏ này muốn có một xã hội có quy củ để bảo vệ việc làm ăn của họ và giúp cho việc làm ăn thêm phát triển. Tại California trong thế kỷ thứ 21, cư dân trong một khu vực vẫn còn họp nhau lại để thay đổi các luật lệ, dưới hình thức các bản giao kèo, các điều kiện và các hạn chế quy định việc sửa sang nhà cửa trong dẫy nhà nơi họ cư ngụ. Những người chủ tài sản này có quyền đưa ra những luật lệ cần thiết cho một xã hội có quy củ. Dù ở tại trụ sở thành phố, tại tòa nhà quốc hội, tại vùng định cư nơi biên cương hay tại phòng khách trong các khu nhà giầu có nơi đô thị, các chủ tài sản, các công dân và các người theo đuổi giấc mơ của người Mỹ đã họp nhau lại để làm luật quy định các quan hệ kinh tế và xã hội. Cái truyền thống đó luôn luôn sống động trong các định chế làm luật từ địa phương cho tới tiểu bang cũng như liên bang.
Nguồn gốc của truyền thống luật pháp tại Mỹ
Quá trình làm luật thông dụng này là một phần của quá trình lịch sử bắt nguồn từ nước Anh. Khi các người Anh thuộc địa thực hiện cái truyền thống làm luật mà họ mang theo, họ đã có thay đổi chút ít cho thích hợp với hoàn cảnh mới. Vua nước Anh lúc đó ban hiến chương cho các tư nhân hay công ty có cổ phần tại một số thuộc địa và cho họ quyền làm luật với những mức độ khác nhau. Nhưng các người Anh thuộc địa lại làm luật mà không có hiến chương đặc biệt hay quy chế thuộc địa. Họ có hiến pháp cổ xưa, tức là luật phần lớn bất thành văn của nước Anh gọi là “thông luật”, không cho chính quyền xúc phạm tới quyền của người dân Anh. Trong thông luật đó có Đại Hiến chương Magna Carta do vua John ban bố vào năm 1215. Hiến chương đó bảo đảm [cho người dân phải được xử án] theo đúng thể thức do luật pháp quy định, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và phải được quyền xử bằng bồi thẩm đoàn. Điểm trung tâm then chốt của luật cổ nước Anh là sự quan hệ giữa quyền tư hữu và quyền tự do. Quyền tư hữu đất đai đã được luật pháp bảo vệ và quy định từ thế kỷ 14, nhưng lịch sử nước Anh và kinh nghiệm thuộc địa của Mỹ cho người Mỹ một quan niệm rõ ràng rằng phải có sự thỏa thuận của nhân dân có chủ quyền thì quyền tư hữu và quyền tự do mới có thể được thay đổi. Tư tưởng cho rằng tính cách chính danh của chính quyền phải xuất phát từ sự tán trợ của những người dưới quyền cai trị, khởi nguồn từ lịch sử Hy lạp và La mã. Sau đó, các lý thuyết gia chính trị Âu châu trong giai đoạn đầu của thời hiện đại đã đóng góp thêm rất nhiều vào quan niệm chủ quyền thuộc về nhân dân.
Các người dân thuộc địa Mỹ, trong thời kỳ chiến tranh cách mạng lại đưa quan niệm này lên một bước nữa bằng cách gia tăng những quyền cụ thể dành riêng cho người dân và do đó lại giới hạn thêm quyền hạn của chính quyền. Các quyền được dành riêng này sau đó cũng đã được ghi vào các đạo luật về quyền con người của tiểu bang và trong toàn quốc. Trong khi tìm cách ngăn chặn chính quyền vượt quá quyền đã được nhân dân có chủ quyền trao cho và dầy xéo lên quyền [cá nhân], các đoàn đại biểu trong kỳ đại hội hiến pháp, từ cấp tiểu bang tới cấp quốc gia, đã lập ra một hệ thống kiểm soát và cân bằng nội bộ bằng cách phân chia quyền làm luật. Mỗi một ngành chính quyền đều có thể thức làm luật độc lập, nhưng các quyền này có một phần chồng chéo lên nhau; cơ cấu kìm hãm trong một hệ thống do đó tạo điều kiện cho sự tham gia một cách rộng rãi của dân chúng.
