Cách Làm Luật Trong Một Xã Hội Dân Chủ

Nới rộng quyền tham gia làm luật

Sự tham gia rộng rãi của dân chúng vào chính quyền đã thay đổi trong lịch sử Mỹ. Khi lập quốc chỉ có nam giới da trắng và có tài sản là thành phần tham gia bỏ phiếu và ứng cử vào các cơ quan làm luật. Đến thế kỷ thứ 19 thì luật này bị hủy bỏ. Nhưng trong nhiều năm, phụ nữ, các người nô lệ châu Phi, thổ dân Bắc Mỹ và người Á châu vẫn không được tham gia vào quá trình làm luật. Phong trào đòi bình quyền gia tăng vào thế kỷ 19 và đạt thắng lợi trong thế kỷ 20. Tại địa phương, phụ nữ họp thành đoàn thể để áp lực các nhà làm luật phải cho họ quyền. Họ gia nhập các tổ chức chống nạn nô lệ, đòi bình quyền tại Seneca Falls năm 1848, [sau đó phong trào lan tràn] về miền tây và tìm thấy môi trường chính trị thuận lợi hơn cho việc tranh đấu đòi quyền. Tại Wyoming và vùng lãnh thổ Utah, phụ nữ giành được quyền bỏ phiếu vào năm 1869 và 1870. Tại California, nhờ chế độ luật của Tây Ban Nha và Mê-hi-cô, phụ nữ được quyền sở hữu tài sản năm 1849, nhưng mãi đến năm 1911 mới được quyền bỏ phiếu. Sau đó, phụ nữ cũng ảnh hưởng tới tu chính Hiến pháp năm 1920 và được quyền đi bầu trong toàn quốc. Các người Mỹ gốc Phi châu được quyền công dân theo tu chính Hiến pháp 14 năm 1868 và đàn ông Mỹ gốc Phi châu được đi bầu năm 1870 theo tu chính Hiến pháp 15, nhưng mãi tới năm 1924 Thổ dân Bắc Mỹ mới được đi bầu; còn di dân Á châu thì phải mãi tới Thế chiến 2 mới có quyền công dân. Con của các người Á châu và những di dân khác sanh tại Mỹ được đương nhiên hưởng quốc tịch Mỹ, nhưng cha mẹ thì không được nhập quốc tịch. Đối với các di dân gốc Hoa, không được có quốc tịch theo luật từ năm 1870, thì Quốc hội cho quyền nhập quốc tịch năm 1943, trong khuôn khổ nỗ lực chiến tranh chống Nhật. Đối với di dân gốc Nhật thì năm 1952 mới được cho nhập quốc tịch theo Đạo luật McCarran-Walter. Tuy nhiên dù có quyền đi bầu hay không thì dân Mỹ cũng luôn luôn làm kiến nghị yêu cầu các cơ quan làm luật phải thực hiện sự thay đổi. Phụ nữ và các người Mỹ gốc châu Phi, ngay cả trước khi có quyền đi bầu, đã tích cực tham gia các đoàn thể và phong trào chính trị để tranh đấu, phản đối và kiến nghị. Việc các cơ quan làm luật sẵn sàng đón nhận sự tham gia có tính cách dân chủ đó đã khiến cho quá trình hình thành các chính sách công có sự tham gia rộng rãi, mặc dầu là với một nhịp độ mà nhiều người tham gia lúc đó thấy là quá chậm.

Phổ thông đầu phiếu

Một trong những lý do khiến cho có sự do dự trong việc áp dụng phổ thông đầu phiếu là triết lý chính trị thịnh hành trong thế kỷ 18. Mô hình của nước Anh, giống như các mô hình thịnh hành tại các nước khác lúc bấy giờ, thường là có một vị vua, Quốc hội và thẩm phán toàn là đàn ông; triết lý này lại được tăng cường bởi các lý thuyết khác nhau về chính thể và quyền xuất phát từ điền sản mà phần lớn cũng do đàn ông làm chủ. Tuy nhiên, phần lớn lý thuyết chính trị và các mỹ từ trong các cuộc thảo luận về quyền và tự do hình như bao hàm là các giá trị đó đều có tính cách phổ cập. Do đó, các quyền của người đàn ông nước Anh, theo sự lý giải của các người Mỹ tại châu Mỹ, tạo thành cái cơ sở hiến pháp cho một cuộc cách mạng năm 1776 để ngăn ngừa cái hiến pháp cổ của nước Anh đưa đến nạn chuyên chế và gìn giữ những hứa hẹn cho người Mỹ. Cái mục đích đó được thực hiện như thế nào trên thực tế là công ciệc của các đại biểu tham dự các đại hội hiến pháp cấp tiểu bang và liên bang. Trong các đại hội hiến pháp cấp tiểu bang vào cuối thế kỷ 18, các đại biểu đã soạn thảo các văn bản mô tả chi tiết và nới rộng, dưới các hình thức khác nhau, các quyền của người dân thuộc địa Hoa kỳ. Maryland có châm chước một chút về điều kiện sở hữu điền sản trong việc bầu các đại biểu đi dự đại hội hiến pháp. Georgia thì lập ra một cơ chế xin kiến nghị mở đường cho các hiến pháp mới vào những năm 1789, 1794, and 1797. Bản năm 1797 có đặt ra thể thức tu chính, thay vì là họp đại hội, để thay đổi hiến pháp Năm 1776, Massachusetts bắt đầu một quá trình dẫn tới sự gia tăng quyền của dân chúng trong việc thay đổi hiến pháp. Viện lập pháp Massachusetts (lúc đó gọi là Tòa Chính) yêu cầu các thị trấn trong bang cho phép viện soạn thảo hiến pháp trong phiên họp tới. Các thị trấn, chứ không phải đa số người đi bầu, đã quyết định số phận của đề nghị đó; do đó Boston và 8 thị trấn khác đã bác bỏ việc cho viện quyền soạn thảo bộ luật cơ bản của tiểu bang. Trong những năm sau đó các thị trấn cho phép Toà Chính được [làm hiến pháp] nhưng phải được các thị trấn phê chuẩn. Tuy nhiên, rốt cuộc, thì các thị trấn và dân chúng, khi được đi bầu mà không bị giới hạn vì tiêu chuẩn sở hữu điền sản, đã bác bỏ văn kiện đó. Năm 1779 Toà Chính phải cho dân chúng bỏ phiếu trong thị trấn mình để cử đại biểu đi dự đại hội. Theo đại hội đó, Hiến pháp Massachusetts năm 1780 sau hết cũng được phê chuẩn. Quá trình lịch sử của việc hình thành hiến pháp đã lập ra một số nguyên tắc. Nguyên tắc thứ nhất là phải có đại hội các đại biểu dân cử để soạn thảo hiến pháp. Nguyên tắc thứ hai là dân chúng phải được bảo đảm tiếp cận được với diễn trình [soạn thảo] và tu chính hiến pháp qua các cuộc bầu cử. Sau hết, dân chúng phải có quyền phê chuẩn hiến pháp qua thể thức bỏ phiếu.

Tự do và tài sản

Hiến pháp Massachusetts cũng là một phần trong cái bối cảnh khi các đại biểu họp tại Philadelphia năm 1787 để soạn thảo hiến pháp liên bang. Một phần then chốt khác của cái bối cảnh đó là quan hệ giữa tự do và tài sản trong cái phương trình làm luật. Lý thuyết chính trị của John Locke [ii], triết gia người Anh thế kỷ 17, cũng ảnh hưởng nhiều tới sự suy nghĩ của người Mỹ về vấn đề này. Locke lập luận rằng người ta thỏa thuận sống trong một khối thịnh vượng chung là để cho chính quyền có thể thi hành luật tự nhiên và các quyền tự nhiên. Các quyền của con người trong tự nhiên bao gồm quyền có tự do và quyền có tài sản. Người Mỹ say mê cái ý tưởng đó đến nỗi khi nói tới tự do cá nhân, các mỹ từ về chính trị lẫn hiến pháp đều dùng các quan niệm về luật tài sản: người Mỹ có thể sở hữu tự do. Locke cũng nghĩ rằng cuộc sống và tự do cũng lệ thuộc vào tài sản, nhưng cá nhân sử dụng tài sản phải không được phí phạm hay khiến cho các người khác không hưởng được thiên nhiên và những tài nguyên phong phú của thiên nhiên. Do đó, một trong những vấn đề mà các đại biểu trong cuộc đại hội hiến pháp năm 1787 là làm sao vừa bảo vệ được những kết quả của tự do được thể hiện qua việc tư hữu tài sản và vừa giữ cho nhân dân tiếp cận được với được tài nguyên phong phú của thiên nhiên. Trong Hiến pháp Mỹ, các đại biểu tạo ra một chính quyền theo thể chế cộng hòa để cân bằng các lợi ích và để bao gồm các yếu tố của một cơ cấu chính quyền phức hợp (mixed government). Chính quyền phức hợp là chính quyền trong đó có pha trộn nhiều yếu tố lịch sử của các chế độ như chế độ quân chủ, chế độ quý tộc và chế độ dân chủ. Cả ba chế độ này đều có khuynh hướng chiếm phần lợi cho mình. Nếu không có hiến pháp ngăn chặn thì mỗi chế độ đều có thể đưa tới tệ trạng cực đoan như chuyên chế, tập đoàn thống trị (oligarchy) và dân chủ quá trớn. Mỗi một khuynh hướng lấn quyền này đều cũng có thể đe dọa tự do của cá nhân trong tài sản tư của họ. Tuy nhiên cần phải có sự đại diện của các khuynh hướng này thì mới có thể duy trì được một xã hội có quy củ. Cái giải pháp được các đại biểu đại hội hiến pháp là tạo ra sự phân lập quyền lực giữa ba ngành trong chính quyền, nhưng trong định chế đó lại có các chức năng chồng chéo lên nhau. Điều quan trọng là sự chồng chéo này khiến cho các ngành chính quyền đó ngang hàng với nhau và mỗi ngành chính quyền còn giữ lại quyền lực đủ để cân bằng các ngành kia.