Thể Chế Liên Bang và Dân Chủ

Mặc dầu tiểu bang có vai trò quan trọng như vậy trong cuộc sống hàng ngày, nhưng các vấn đề bức xúc nhất về chính sách công quyền vào thời kỳ trước khi có cuộc Nội chiến tại Mỹ (1861-65) lại là những cuộc tranh luận về tầm mức quyền hạn của chính quyền quốc gia, mà đa số cho là phải giới hạn. Di sản của cuộc Cách mạng, vốn e ngại nạn trung ương tập quyền, đã để lại nhiều ảnh hưởng cũng như là nhiều điều mơ hồ trong các cuộc tranh luận của đại hội hiến pháp và của việc phê chuẩn Hiến pháp. Ngôn từ của Hiến pháp chỉ có tính cách tổng quát và không có nói rõ là tiểu bang có quyền đảm trách tất cả các quyền còn lại ngoài các quyền đã giao cho chính quyền quốc gia hay không. Vấn đề này lại càng phức tạp hơn vì trên thực tế lúc bấy giờ các tiểu bang có thể thực hiện các chức năng chính quyền một cách tốt đẹp hơn là những thời gian sau này, khi càng ngày lại càng có thêm các vấn đề đòi hỏi những giải pháp cần có sự tham gia của nhiểu tiểu bang.

Cuộc Nội chiến, diễn ra vì vấn đề nô lệ, đã giải quyết được cuộc tranh luận về bản chất của khối liên hiệp và tính cách tối cao của chính quyền quốc gia trong khố liên hiệp đó. Nhưng cuộc Nội chiến đã không đưa ra những giải đáp cho các câu hỏi về sự phân chia trách nhiệm thỏa đáng giữa chính quyền trung ương và tiểu bang mặc dầu Tu chính 14, được phê chuẩn vào năm 1868, có cho phép chính quyền quốc gia gia tăng một cách hợp pháp. Nhưng từ đó cái bối cảnh cho cuộc tranh luận đó đã thay đổi. Trong hậu bán thế kỷ thứ 19, Hoa kỳ đã trở thành một nền công nghiệp chế xuất khổng lồ. Sự phát triển này lại còn kèm theo một số các hiện tượng khác như việc hình thành một thị trường nội địa mở rộng, sự xuất hiện của các đô thị lớn, tập trung của cải và các vấn đề xã hội nghiêm trọng. Sự bành trướng của các công ty độc quyền về hàng hóa và dịch vụ vào cuối thế 19 và đầu thế kỷ 20 lại nâng cao cái hiểm họa quyền lực kinh tế vượt ngoài tầm kiểm soát mà phần lớn dân Mỹ đều cho rằng cũng nguy hại chẳng kém gì nạn quyền lực chính quyền không có gì kiềm chế.

Không một tiểu bang hay một tập hợp các tiểu bang nào có thể tạo ra những điều kiện hữu hiệu để vừa thúc đẩy mà lại vừa kiểm soát sự tăng trưởng của nền mậu dịch và các hậu quả của sự tăng trưởng đó. Vì vậy chính quyền trung ương, lúc đó thường được gọi là chính quyền liên bang hơn trước, bắt đầu lãnh cái trách nhiệm đó; lúc đầu thì trách nhiệm này được thi hành theo điều khoản “giao thương giữa các tiểu bang”. Trong số các quyền lực mà Quốc hội được Hiến pháp giao phó là quyền “quy định sự giao thương với nước ngoài và giữa các tiểu bang...” Tới năm 1887, thì đã có xuất hiện các văn bản pháp lý có tính cách toàn quốc để quy định về vấn đề độc quyền chiếu theo quyền lực [của liên bang] về giao thưong giữa các tiểu bang. Trong thời gian 20 năm sau đó, Quốc hội đã thông qua một số luật chi phối nhiều hoạt động từ xổ số quốc gia tới buôn bán rượu và các công nghiệp thực phẩm và dược phẩm.

Mặc dầu các luật đó nhằm ngăn cản các tiểu bang can thiệp vào việc phát triển của ngành công nghiệp, nhưng kết quả là nó đã nới rộng quyền lực của chính quyền quốc gia vào trong một lãnh vực mà trước kia vẫn được coi là trách nhiệm của tiểu bang, đó là lãnh vực bảo vệ sức khỏe và an sinh [xã hội] trong thời kỳ công nghiệp phát triển nhanh. Vào đầu thế kỷ 20, các thành phần tiến bộ, đứng đầu là Tổng thống Theodore Roosevelt (1901-09) không thấy có gì sai trái trong chính sách can thiệp này; các vị đó lập luận rằng các tiểu bang cần có liên bang giúp đỡ để đạt được các mục đích của mình. Mặc dầu tòa Tối cao - lúc đó đã được công nhận là cơ quan trọng tài tối hậu trong việc giải thích Hiến pháp – cũng chấp nhận và triển khai mục đích đó tuy vẫn muốn hạn chế quyền của chính quyền liên bang. Tuy vậy nhưng chiều hướng chung đã rõ ràng: quyền của liên bang đã gia tăng theo với nhu cầu của quốc gia trong khi đó thì quyền của tiểu bang cũng theo đó mà giảm.