Thể Chế Liên Bang và Dân Chủ
Vào những năm 1930, chương trình kinh tế New Deal (Vận hội Mới) của Tổng thống Franklin Roosevelt lại thách thức cái quan niệm tương đối bảo thủ về việc duy trì sự quân bằng giữa quyền lợi của liên bang và tiểu bang bằng cách đòi quyền quốc gia rộng rãi để đáp ứng với cuộc Khủng hoảng Kinh tế. Các biện pháp của Quốc hội đã mở đường cho việc quản lý toàn quốc về an sinh xã hội (lập ra hệ thống An sinh xã hội), nông nghiệp, mức lương tối thiểu, và quan hệ lao động. Ngoài ra còn có những luật cho liên bang có quyền đặt ra những luật lệ trong các lãnh vực then chốt như vận tải, giao thông, ngân hàng và tài chánh. Với tất cả các biện pháp đó cùng với chương trình cứu trợ và các chương trình xã hội khác, chương trình Vận hội Mới đã đặt ra một cơ cấu quản lý toàn quốc mà sau này lại được củng cố hơn nữa trong cuộc Thế chiến thứ 2 và cuộc Chiến tranh lạnh. Đó là một cuộc cách mạng hiến pháp có tầm mức tối quan trọng: chính quyền nước Mỹ bây giờ đã có quyền hành động trong những lãnh vực – như luật lao động và ngân hàng – mà trước kia hầu như là chỉ dành riêng cho tiểu bang.
Vai trò của chính quyền trung ương trong hệ thống liên bang tiếp tục bành trướng trong hậu bán thế kỷ 20. Tòa Tối cao đã đảo ngược cách giải thích lúc đó đang thịnh hành về Tu chính 14 định nghĩa một cách hẹp hòi về giới hạn của quyền lực quốc gia và nới rộng tầm quán xuyến của chính quyền liên bang trong các lãnh vực như trừng trị tội phạm, an sinh xã hội, quan hệ chủng tộc, và quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật. Tới cuối thế kỷ thì hầu như không có lãnh vực nào mà lại không chịu sự chi phối của liên bang. Hậu quả này thể hiện rõ ràng nhất bằng cách trả lời của dân chúng khi được hỏi về tư cách công dân của mình. Trong lịch sử nước Mỹ, trước kia có một số lớn người bầy tỏ lòng trung thành của họ trước nhất là với tiểu bang, nhưng bây giờ thì họ thường coi tư cách công dân đối với cả nước là có già trị hơn. Cuộc cách mạng trong thể chế liên bang không chấm dứt các cuộc tranh luận về sự phân phối quyền hành thích đáng giữa các tiểu bang và chính quyền quốc gia. Các sự bất đồng ý kiến về vai trò thích đáng của chính quyền quốc gia và chính quyền tiểu bang hãy còn là một phần quan trọng của chính trị Hoa kỳ. Hầu như không có một vấn đề nội bộ nào mà lại không dính dáng tới sự tranh chấp để định xem cấp chính quyền nào có quyền ấn định và thi hành các chính sách liên hệ. Sự phân biệt giữa chức năng của chính quyền liên bang và tiểu bang không cón là một điều dễ dàng nữa bởi vì hệ thống liên bang hiện tại có khuynh hướng pha trộn các trách nhiệm và làm mờ sự khác biệt trong việc đáp ứng với các vấn đề kinh tế và xã hội.
Ưu điểm của việc chia quyền
Ngày nay, sự phân định quyền lực và chính sách được thực hiện trong cái khung cảnh mà các học giả gọi là thể chế liên bang hợp tác. Cái đặc điểm của lối sống Hoa kỳ này đã được kiện toàn đến mức nó vẫn thể hiện ngay cả khi hai cấp chính quyền có tranh chấp. Chẳng hạn như vào những năm 1960, các tiểu bang tại miền Nam tuy chống lại chính sách bắt buộc về hội nhập chủng tộc nhưng vẫn hợp tác trong chương trình xây dựng hệ thống xa lộ liên tiểu bang. Các thể thức hoạt động khiến cho thể chế liên bang hợp tác hoạt động được bao gồm các yếu tố như chia sẻ kinh phí, hướng dẫn của liên bang và hợp tác quản trị. Quốc hội đồng ý chịu một phần kinh phí cho các chương trình có lợi ích cho quốc gia nhưng người dân của một tiểu bang hay một vùng lại được hưởng lợi trực tiếp như xây xa lộ, lập các cơ sở xử lý nước phế thải, phi trường, và các công trình cải thiện hạ tầng cơ sở của địa phương và tiểu bang. Tiền trợ cấp của liên bang được cung cấp cho các tiểu bang cùng với các hướng dẫn mà tiểu bang phải chấp nhận và thi hành. Chẳng hạn như để giải quyết tệ nạn lái xe khi say rượu, mới đây Quốc hội đã ra điều kiện là các tiểu bang phải ra luật lưu thông trong đó có biện pháp giảm lượng rượu trong máu thì mới được liên bang cấp ngân khoản xây xa lộ. Một thể thức nữa là các viên chức của tiểu bang và của địa phương thực hiện các chính sách của liên bang bằng các chương trình do chính họ lập ra và bằng guồng máy hành chính của mình. Điển hình là chương trình đào tạo và huấn luyện lại cho lực lượng lao động: mỗi tiểu bang đều lập ra và quản lý chương trình do liên bang tài trợ để đáp ứng yêu cầu cụ thể của người dân trong tiểu bang.
Kinh nghiệm của Mỹ đối với thể chế liên bang cho các chính quyền dân chủ ở các nơi khác những bài học gì? Cơ cấu chính quyền liên bang không được phổ cập - phần lớn các quốc gia thiết lập cơ cấu chính quyền thống nhất trong đó quyền hành tập trung vào chính quyền trung ương. Thể chế liên bang cũng không phải là thể chế cốt yếu cho dân chủ như kinh nghiệm của các nuớc theo chế độ đại nghị đã cho thấy. Nhưng nguyên tắc của thể chế liên bang là quan trọng cho các chính quyền dân chủ ở các nơi khác. Đứng đầu trong các nguyên tắc đó là sự chia quyền (division of power) và phân quyền (separation of power) cũng như việc tản quyền (decentralisation) chính sách và chính trị.
