Vai Trò của Tự Do Báo Chí

Hai phán quyết của toà Tối cao thuận lợi cho tự do báo chí

Việc sử dụng điều Tu chính Thứ Nhất làm một nguyên tắc hiến pháp để bảo vệ cho quyền tự do phát biểu của cá nhân đã tiến một bước đáng kể trong vụ liên quan tới một người Cộng sản tên là Benjamin Gitlow. Ông này đã phổ biến một tập sách nhỏ hô hào dùng đình công và các hành động tập thể khác để tiếp tay cho chế độ xã hội chủ nghĩa. Tiểu bang New York truy tố Gitlow vì đã vi phạm luật của tiểu bang theo đó hô hào lật đổ chính phủ là một tội. Tuy toà Tối cao Hoa kỳ chấp thuận Gitlow là có tội, nhưng Tòa cũng phán rằng bảo vệ tự do ngôn luận và tự do báo chí trong khoản Tu chính Thứ nhất là các quyền tự do cá nhân then chốt mà cả chính quyền tiểu bang lẫn liên bang đều không thể hạn chế. Tòa cũng dẫn chứng lời lẽ dùng trong điều Tu chính thứ 14, được phê chuẩn năm 1868, nói rằng: "Không một tiểu bang nào có thể thu hẹp các đặc quyền và quyền bất khả xâm phạm của các công dân Hoa kỳ; không một tiểu bang nào được tước quyền sống, quyền tự do hay quyền có tài sản của một cá nhân nếu không xét xử theo đúng luật pháp; tất cả các tiểu bang cũng không được từ chối sự bảo vệ bình đẳng của luật pháp đối với bất cứ cá nhân nào thuộc thẩm quyền của tiểu bang." Toà lập luận rằng các vị đề xướng ra khoản tu chính đó muốn là từ khi có tu chính này các tiểu bang bắt buộc phải tôn trọng các quyền tự do quan trọng của cá nhân như chính quyền liên bang, và quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai quyền tự do trong số các quyền quan trọng như vậy.

Thế là từ đó người ta bắt đầu dùng điều Tu chính Thứ 14 làm đòn bẩy pháp lý để đẩy các sự bảo vệ quy định trong Đạo luật về Dân quyền nghiêng về phía cá nhân khi cá nhân phải đối đầu với chính quyền. Phán quyết của Toà về vụ Gitlow, trên thực tế đã bác bỏ phán quyết của Toà năm 1833 và khơi nguồn cho một xu hướng tiếp diễn trong 40 năm kế tiếp. Trong thời gian này, các sự bảo vệ khác trong 10 điều tu chính đầu tiên trong Hiến pháp Hoa kỳ đã được lựa chọn và bao gồm vào sự bảo vệ cá nhân chống lại sự xâm lấn của chính quyền tiểu bang và liên bang. Xu hướng này đã củng cố cho quyền tự do ngôn luận ở mọi cấp.

Có lẽ quyết định quan trọng nhất về tự do báo chí trong thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến là vụ năm 1931 liên quan tới việc chính quyền tiểu bang muốn ngăn ngừa việc xuất bản của tờ báo lá cải, Saturday Press, do J.M. Near chủ trương. J.M.Near [3] là một người từng đưa ra những luận điệu chống di dân và kỳ thị chủng tộc vào những năm 1920. Năm 1925, Viện Lập pháp Minnesota thông qua đạo luật Giảm nạn Phá rối Công cộng (Public Nuisance Abatement Law) cho phép quan toà cấm phổ biến các tài liệu mà họ cho là "đồi bại, tục tĩu và dâm đãng" hay "có ác ý, có tính cách xúc phạm và phỉ báng". Ngay sau khi luật được ban hành, một thẩm phán của tiểu bang đóng cửa báo Saturday Press. Khi xét đơn kháng cáo, toà Tối cao Hoa kỳ, với số phiếu 5-4, đã đưa ra sự bảo vệ trong hiến pháp về lập trường lâu đời của Hoa kỳ - căn cứ theo thông luật của nước Anh, và đã được các vị Khai quốc công nhận - là không được ngăn cấm báo chí "một cách tiên quyết."[4] Toà phán rằng tuy đôi khi có thể trừng phạt một người vì phổ biến tài liệu có tính cách mua chuộc, có ác ý hay phỉ báng quá đáng, nhưng chỉ trong những trường hợp rất đặc biệt - như an ninh quốc gia - mới có thể ngăn cấm một tờ báo không được đăng một bài báo có tính cách gây tranh luận. Robert R. McCormick, nhà xuất bản tại Chicago đã góp phần đài thọ các chi phí cho vụ kháng cáo của báo Saturday Press, nói rằng ý kiến của Chánh thẩm Charles Evans Hughes trong ý kiến của đa số "sẽ đi vào lịch sử như là một trong những thắng lợi lớn của tự do tư tưởng".

"Các người có danh tiếng" và luật về phỉ báng

Một khía cạnh quan trọng trong sự gia tăng quyền tự do báo chí tại Mỹ trong thế kỷ 20 là "chủ thuyết về người có danh tiếng," mà toà Tối cao Mỹ đã đặt ra qua nhiều vụ đáng chú ý vào các năm 1960, 1970 và 1980. Nguyên tắc của chủ thuyết này là một người bình thường - tức là một người không có tiếng tăm và không thường được biết tới - thì được bảo vệ chống lại sự phê phán của giới truyền thông nhiều hơn là người có danh tiếng. Trái lại, người có danh tiếng phải chịu sự phê phán và soi mói của giới truyền thông dù các sự soi mói hay phê phán đó sai, trừ phi người bị chỉ trích có thể chứng minh rằng cơ quan phổ biến tài liệu đó với ác ý. Trong trường hợp này "ác ý" được định nghĩa là công bố một tài liệu mà người viết, người chủ biên hay người thông báo biết là sai khi được phổ biến. Ác ý cũng còn được hiểu là người viết, người chủ biên hay người thông báo đã hành động có tính cách bất cẩn không phối kiểm lại sự đúng hay sai của những lời đã khẳng định trong tài liệu phổ biến. Phần lớn các vụ xét xử theo "lý thuyết về người danh tiếng" đều xoay quanh vấn đề xác định xem người kiện là bị phỉ báng hay bôi nhọ có được toà coi là một người thực sự có danh tiếng không. Khi một người được coi là có danh tiếng thì rất khó mà chứng minh rằng người đó đã bị phỉ báng.

Có lẽ một vụ có tính cách tiêu biểu nhất cho "thuyết về người có danh tiếng" là vụ liên quan tới một quảng cáo được thuê đăng vào những năm 1960 bởi một nhóm muốn giúp cho phong trào tranh đấu cho quyền công dân do Martin Luther King, Jr lãnh đạo. Quảng cáo đề cập tới sự kiện là ông King đã bị các nhân viên công lực địa phương ở khắp miền Nam - gồm cả thành phố Montgomery, Alabama - làm khó dễ. Ủy viên An ninh Công cộng tại Montgomery là L.B. Sullivan đã kiện báo New York Times về tội phỉ báng và lập luận rằng quảng cáo có những lời lẽ quá đáng và những sự kiện sai lầm khiến cho công chúng có thể có ý nghĩ không tốt về ông. Tòa đã phán quyết rằng báo Times quả thực đã vô tình chứ không có ác ý lầm lẫn trong quảng cáo và vì Sullivan là một người có danh tiếng nên không thể đòi báo Times bồi thường thiệt hại. Hơn hai mươi năm sau, Tòa Tối cao lại được yêu cầu xét một vụ có thể là có tính cách phỉ báng một người có danh tiếng. Jerry Falwell, một mục sư bảo thủ nổi tiếng, là đối tượng của một quảng cáo châm biếm bóng gió được đăng trong một tạp chí chuyên về tình dục. Những "sự kiện" về Falwell trong quảng cáo đều kỳ quặc và hoàn toàn sai. Do đó Falwell lập luận là danh tiếng của ông đã bị tổn hại. Tuy nhiên, Toà đã phán quyết thuận lợi cho tờ tạp chí và chủ trương rằng tự do báo chí cho phép các nhà biếm họa và các người vẽ tranh hí họa có thể có nhiều tự do hơn khi mô tả các người có danh tiếng.