Vai Trò của Tự Do Báo Chí

Hồ sơ mật Lầu Năm góc (bộ Quốc phòng Mỹ)

Có lẽ một vụ quan trọng nhất tại Mỹ liên hệ tới giới truyển thông trong hậu bán thế kỷ 20 là vụ được mệnh danh là vụ Hồ sơ mật Lầu Năm góc. Cuộc tranh chấp giữa chính quyền Hoa kỳ và tờ New York Times, tờ báo danh tiếng nhất tại Mỹ, cho ta thấy rõ thêm nhiều vấn đề quan trọng của khoản Tu chính Thứ nhất đã thảo luận trên đây, và vấn đề này cũng liên quan tới một vấn đề chính trị cận đại rất sôi nổi đó là việc Mỹ tiến hành chiến tranh tại Việt nam.

Cuộc tranh luận này bắt nguồn từ năm 1967 khi bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara lập ra một nhóm đặc nhiệm để sưu tập tài liệu lịch sử về chính sách Hoa kỳ đối với Việt nam trong thời kỳ 1945-67. Nhóm đặc nhiệm này gồm các nhân viên của bộ Quốc phòng cũng như các người của các cơ quan chính quyền khác và một số người làm việc hợp đồng độc lập. Công cuộc sưu tập chỉ tập trung vào các tài liệu có sẵn và không có tài liệu nào là phỏng vấn cá nhân cả. Kết quả là một báo cáo khổng lồ dài 7000 trang được hoàn tất vào năm 1969. Báo cáo được mệnh danh là Hồ sơ mật Lầu Năm góc. Báo cáo chỉ được in ra có 15 bản vì tài liệu này được dự định là chỉ lưu hành nội bộ cho bộ quốc phòng và các cơ quan chính quyền khác.

Một người làm việc hợp đồng chỉ giữ vai trò nhỏ trong công trình nghiên cứu dài đó là Daniel Ellsberg, một nhân viên của Công ty Rand, một tổ chức tham mưu chuyên nghiên cứu về các vấn đề quốc phòng. Ellsberg có những nghi vấn về chính sách Hoa kỳ tại Việt nam, phát sinh một phần từ việc đọc tài liệu nghiên cứu đó. Sau khi không thuyết phục được một dân biểu quốc hội đòi công bố tài liệu đó, Ellsberg bí mật làm thêm một bản tài liệu và phổ biến cho các nhà báo của New York TimesWashington Post. Hồ sơ mật Lầu Năm góc có rất ít tài liệu mật nhưng có những đoạn nghi ngờ sự khôn ngoan của chính sách Hoa kỳ đối với Việt nam, trước và sau khi Mỹ đã tham gia vào các hoạt động quân sự có tính các gây hấn tại Đông Nam Á

Tháng 6 năm 1971 báo Times đăng được hai kỳ tài liệu trong Hồ sơ mật Lầu Năm góc thì chính quyền của tổng thống Nixon xin lệnh của tòa cấm không cho đăng tiếp. Một thẩm phán tòa liên bang tại New York cho lệnh cấm, trong khi chờ đợi đưa nội vụ ra xử. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ mà một tòa liên bang đã cấm một toà báo đăng một bài báo. Đây là một thí dụ rõ rệt nhất về việc cấm đăng báo trước khi biết rõ nội dung của bài báo. Thế là vụ này liền được đưa lên toà Tối cao xét xử. Sau khi từ chối yêu cầu của bộ Tư pháp xin cho xử kín, Toà cho phép xử công khai vụ này ngày 26 tháng 6 năm 1971. Chỉ 4 ngày sau là tòa đã ra phán quyết. Với biểu quyết đa số, sáu vị thẩm phán đã thỏa thuận cho công bố một phán quyến ngắn nhân danh tòa (không ghi tên người đề nghị phán quyết) nói đại ý rằng bất cứ đơn kháng cáo nào để xin cấm đăng phải có tầm quan trọng có tính cách hiến pháp nhưng trong trường hợp này thì chính quyền Nixon đã không hội đủ yêu cầu của tầm mức quan trọng đó. Vì mỗi người trong sáu vị thẩm phán thuộc thành phần đa số đã viết các ý kiến riêng rẽ của mình nên khó mà có thể biết rõ là luật gia hay nhà luật học nào đã là ‘nguồn sáng' dẫn đường tới trọng tâm của phán quyết này. Ta chỉ có thể biết là đa số đã không tin là tiết lộ thông tin trong Hồ sơ Mật Lầu Năm góc sẽ "trực tiếp hay gián tiếp gây ra sự tai hại không thể cứu vãn được" cho an ninh quốc gia. Nhưng phần lớn các chuyên gia về hiến pháp cho rằng phán quyết của Toà, tuy là một thắng lợi lớn nhưng cũng có điểm hại lớn cho tự do báo chí. Tòa không thấy có đủ lý do chính đáng để không cho xuất bản nhưng Toà cũng chấp thuận quan điểm của chính quyền là có thể ra lệnh tạm ngưng trong khi chờ đợi cung cấp chứng cớ về ảnh hưởng tai hại của tài liệu muốn xuất bản. Phần kết cục của vụ này là về sau Hồ sơ mật lầu Năm góc cũng được đăng tải trên báo Times, báo Post và các báo khác khắp trong nước mà không có phương hại gì cho an ninh quốc gia.

Truyền thông: Đèn pha soi sáng chính quyền

Nói tóm lại, giới truyền thông có một lịch sử là luôn luôn muốn thử sự co giãn của các khoản về tự do ngôn luận của khoản Tu chính Thứ nhất bằng cách thách thức những toan tính muốn giới hạn những điều họ nói về chính trị và xã hội và bằng lập luận hăng say là "công chúng có quyền được biết". Như vậy là phải, vì tự do báo chí - dù rằng đôi khi cũng đi quá trớn vượt ra khỏi giới hạn thế nào là hay là tốt - là một thành phần cốt yếu để bảo vệ một xã hội dân chủ. Thomas Jefferson cho rằng tự do báo chí là yếu tố tốt nhất để bảo đảm tự do và ông, sẵn sàng chấp nhận những sự quá đáng do tự do báo chí đem lại, để có được các lợi ích là luôn luôn nhận được các phê bình giúp cho hoạt động chính quyền thêm sáng tỏ.

Không phải nền dân chủ nào cũng sốt sắng như Hoa kỳ trong việc duy trì một giới truyền thông không bị ràng buộc. Ngay cả các toà tại Mỹ, trong khi có khuynh hướng càng ngày càng cho thêm giới truyền thông có nhiều tự do, không phải lúc nào cũng ủng hộ hoàn toàn tự do báo chí. Tuy nhiên, cũng nên nhắc lại nguyên tắc đưa ra trong phần đầu của bài tiểu luận này: một quốc gia muốn được coi là thực sự dân chủ phải sẵn sàng bảo vệ rất nhiều cho giới truyền thông được phát biểu tư tưởng. Tuy thành tích của Hoa kỳ về điểm này chưa phải là hoàn hảo, nhưng như Thẩm phán Oliver Wendell Homes đã mô tả năm 1919, chính quyền Hoa Kỳ là một "thí nghiệm" của thuyết hiến pháp trị, và các thí nghiệm này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia tăng quyền tự do phổ biến tư tưởng.

© Học Viện Công Dân 2006