Vai Trò Tư Pháp Độc Lập

Tuy nhiên, nhiệm kỳ suốt đời cũng giới hạn ảnh hưởng của các tổng thống đối với các thẩm phán của tòa Tối cao. Căn cứ vào các điều mà họ đã quyết định khi còn là một nhà chính trị hay là một thẩm phán ở toà cấp dưới người ta có thể nhận định về những quan điểm mà các thẩm phán đó có thể đưa ra khi họ được bổ nhiệm vào tòa Tối cao. Nhưng điều này không hẳn là như vậy. Thí dụ như năm 1953, khi tổng thống Dwight Eisenhower bổ nhiệm Earl Warren làm chánh thẩm tòa Tối cao, tổng thống biết là ông Warren trước kia, khi là bộ trưởng tư pháp tại California, chính là người đã chủ trì việc đưa các người Mỹ gốc Nhật tại bang này vào trại tập trung trong Thế chiến 2; ông cũng là một công tố viên và một thống đốc rất cứng rắn đối với vấn đề phạm tội và các tội phạm. Nhưng khi làm chánh thẩm tòa Tối cao ông Warren đã giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tòa Tối cao nhất trí chấp thuận quyết định tuyên bố việc cách ly chủng tộc trong các trường công là trái hiến pháp. Và trong những năm 1960, phần lớn cũng do ảnh hưởng của ông Warren mà tòa Tối cao đã giải thích hiến pháp theo nghĩa bắt buộc phải có hệ thống để bảo vệ các người bị truy tố chặt chẽ hơn thường lệ khi các người này được đưa ra xét xử bởi hệ thống tư pháp hình sự. Khi tòa Tối cao dưới thời ông Warren bác bỏ cái truyền thống cho dân trong vùng nông thôn có ảnh hưởng hơn dân thành thị trong các cuộc bầu cử đại diện các viện lập pháp, có người nói rằng điều này đã làm tổng thống Eisenhower tức giận đến nỗi ông nói rằng nếu biết như vậy thì ông đã chẳng bao giờ đề cử Warren làm chánh thẩm. Lý do khiến cho ông Warren đưa ra những phán quyết như vậy một phần cũng là do tính của ông, nhưng sự kiện hình như ông đã thay đổi triết lý cai trị cũng phản ánh một hiện tượng người ta thấy rõ trong cuộc đời sự nghiệp của nhiều vị thẩm phán tòa Tối cao. Có nhiều vị đã từng làm việc trong các chức vụ dân cử; tại các chức vụ này vì phải làm hài lòng cử tri và vì phải tái tranh cử nên họ đã phải tập trung vào các vấn đề chính trị địa phương. Đó là điều mà các nhà soạn thảo hiến pháp muốn tránh bằng cách đặt ra chức vụ thẩm phán bổ nhiệm trọn đời. Các vị thẩm phán khác thì đã làm thẩm phán tại tòa tiểu bang, là nơi không cần phải giải thích hiến pháp liên bang, hay tại tòa liên bang cấp dưới, là nơi mà họ biết chắc rằng nếu họ hiểu sai hiến pháp thì đã có tòa Tối cao sửa lại. Tuy nhiên, khi đã lên tới tòa Tối cao thì các thẩm phán không còn phải chiều theo ý thích nhất thời của quần chúng nữa. Các vị thẩm phán ý thức được ngay rằng họ là những người trọng tài tối hậu của đạo luật cơ bản của quốc gia – không còn có tòa nào cao hơn để sửa lại những lỗi lầm của họ – do đó họ thường suy nghĩ theo đường hướng mới về những lời cao xa trong Hiến pháp để suy ra ý nghĩa và đường lối hành động [bao hàm trong Hiến pháp]. Bổ nhiệm trọn đời cũng giúp cho tư thế độc lập của ngành tư pháp. Những vấn đề khiến cho tổng thống muốn bổ nhiệm người này hay người khác làm thẩm phán tòa Tối cao có thể không liên hệ gì với các chương trình chính trị trong suốt thời gian mấy chục năm tại chức của thẩm phán. Có những vấn đề không ai nghĩ tới khi thẩm phán được bổ nhiệm nhưng lại trở nên những vấn đề quan trọng gây tranh luận trong những năm sau. Tổng thống không thể nào lường trước được sự biến chuyển của các hiện tượng như vậy. Khi tổng thống