Vai Trò Tư Pháp Độc Lập
Nhưng như ta đã thấy, khởi điểm của hệ thống chính trị Hoa kỳ là cá nhân và quyền cá nhân. Hiến pháp đã ấn định giới hạn phạm vi hoạt động của chính quyền và, nói rộng ra, giới hạn phạm vi mà đa số có thể kiểm soát một cá nhân. Khi bao gồm các quyền thì Hiến pháp thực ra là đã định ranh giới các lãnh vực trong cuộc sống mà chỉ có cá nhân mới có quyền quyết định thế nào mà họ cho là tốt nhất như: đồng ý hay không đồng ý với ý tưởng của đa số, thờ phụng cái gì mà họ thấy là thích hợp, v.v... Như vậy câu hỏi đặt ra là sự gì sẽ xẩy ra khi mà điều cá nhân coi là quyền lại mâu thuẫn với ý muốn của đa số? Liệu ta có thể tin là đa số sẽ cố nén cái điều mà họ tin tưởng mãnh liệt để tôn trọng nguyên tắc quyền cá nhân không? Câu trả lời của các nhà soạn thảo Hiến pháp, như ta đã thấy, là giao việc bảo vệ quyền cho nhóm đa số hay cho chính quyền được đa số bầu lên là một điều ngây thơ. Cần phải lập ra một ngành tư pháp độc lập không có e ngại gì trong việc kiên quyết khẳng định quyền con người dù đa số có kịch liệt phản đối. Các tòa liên bang đã nhận vai trò bảo vệ quyền con người - mà ở Mỹ thường gọi là quyền tự do của công dân hay quyền công dân - với thái độ rất nghiêm túc. Khi hành động như vậy các tòa đó đã nới rộng các quyền đó ngoài sự trù liệu của các nhà soạn thảo Hiến pháp. Thí dụ như tuy trong Hiến pháp không có nói đến “quyền riêng tư”, nhưng tòa Tối cao đã thấy Hiến pháp có ý muốn bảo vệ quyền riêng tư trong những điều khoản về bảo đảm không bị khám xét một cách không hợp lý hay bảo đảm quyền tự do thông đạt. Quyền tự do ngôn luận đã được Toà giải thích rộng ra và bao gồm không những lãnh vực truyền hình và mạng lưới mà gồm cả những cách phát biểu không dùng ngôn ngữ như cách diễn đạt trong nghệ thuật và cách biểu lộ bằng những biểu tượng chính trị. Khi khẳng định quyền của nhân dân, ngành tư pháp liên bang đã vừa thi hành sứ mạng do Hiến pháp giao phó - mà không bị chi phối bởi các cuồng vọng của quần chúng, theo một đường lối độc lập mà những tòa khác ít độc lập hơn không thể làm được – và vừa tự xác định cho mình là một định chế nằm trong nếp sinh hoạt ‘có qua có lại’ của một hệ thống chính trị. Vào năm 1954, khi tòa Tối cao do chánh thẩm Earl Warren chủ trì nhất trí phán quyết rằng phân chia chủng tộc trong nhà trường là vi phạm quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật do Hiến pháp bảo đảm, tức là Tòa đã mặc nhiên công nhận và khích lệ phong trào quyền công dân lúc đó đang phát sinh. Về sau Tòa cũng nhận ra rằng không thể nào giải thích là Hiến pháp cấm kỳ thị chủng tộc trong lãnh vực tư, nhưng phán quyết của Tòa đã khuyến khích Quốc hội thông qua luật quy định như vậy. Và khi các đạo luật đó bị đưa ra khiếu nại trứơc tòa thì tòa Tối cao đã ủng hộ các đạo luật đó. Khi phiên toà của chánh thẩm Warren Burger lần đầu tiên phán rằng vấn đề nam nữ bình quyền là một vấn đề thuộc hiến pháp thì thực ra là Tòa đã công nhận sự thay đổi cương vị của phụ nữ và bảo đảm cho phong trào phụ nữ đang phát sinh lúc bấy giờ rằng những đòi hỏi của họ sẽ được ít ra là một ngành trong chính quyền coi trọng. Điều mà Tòa khẳng định là những người không được đa số ủng hộ, những người khác biệt và những người thách thức trật tự hiện hữu dù sao cũng sẽ được nghe trần tình đầy đủ khi họ nói rằng quyền của họ đã bị xâm phạm.
